Khi có việc cần tư vấn quyết định gấp hãy gọi/sms ngay số 083 313 9692 - 0948 831 3060 hoặc e-mail về dongquangus@gmail.com để được ưu tiên tư vấn nhanh!

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

Về học Kinh Dịch bằng Hán Ngữ

Về nguyên tắc, học Kinh Dịch chúng ta cần học thêm chữ Hán. Nhưng hiện nay - kể từ khi ĐCS TQ nắm quyền - người Trung Quốc đã chuyển sang dùng chữ viết dạng Giản Thể thay vì chữ Phồn Thể (trừ HongKong, Đài Loan, Ma Cau và một số cộng đồng Hoa Kiều) - trong quá khứ vốn là một loại chữ chứa đựng nhiều tinh túy tinh thần của văn hóa Trung Hoa - thì khi tìm hiểu về Kinh Dịch bằng chữ Hán chúng ta phải thận trọng. Phải chọn học hoặc đọc những bản Kinh Dịch viết bằng chữ Phồn Thể. Không nên đọc bản viết bằng Giản Thể. Nếu nghiên cứu quyển "Kinh Dịch - Đạo của người quân tử" của tác giả Nguyễn Hiến Lê thì chỉ cần đọc Hán Việt thôi, không bàn Hán ngữ. Nếu học chữ Phồn Thể, phải đọc "Kinh Dịch trọn bộ" của tác giả Ngô Tất Tố vì tác giả sử dụng chữ Phồn Thể.
Vì sao phải như thế ?
Vì chữ Giản Thể là "thuốc độc" văn hóa của Trung Quốc hiện nay. Chính người nước ấy cũng đang "trúng độc" của chính họ, do vậy chúng ta không nên mang về xài.
Tại sao gọi chữ Giản Thể là "thuốc độc" ?
Đó là vì nó đã làm sai lệch ý nghĩa tinh thâm của chữ Phồn Thể. Học Giản Thể mà không biết Phồn Thể thì chỉ có thể học được ký hiệu Tàu mà không thể nhập được cái "tinh chất" của người Tàu.
Thí dụ chữ Thánh trong Phồn Thể viết là 聖 với chữ Mục (目 con mắt) và Khẩu (口 miệng) ở trên, chữ Vương (王 vua) ở dưới tức ý Thánh là người có hiểu biết (cái nhìn) và lời ăn tiếng nói (khẩu) còn trên cả bậc vua chúa (tức là rất quý báu). Nhưng sang đến chữ Giản Thể thì lại viết là 圣 với bộ Hựu ở trên, bộ Thổ ở dưới xem chẳng ra cái nghĩa gì cả ! Bộ Hựu ở phó từ nghĩa là "thêm", đi cùng chữ Thổ là "đất", vậy hóa ra chữ Thánh nghĩa là "thêm đất" à ?! 
Nguồn: Internet
Hay ví dụ như những chữ dưới đây trích đoạn từ bài viết trên trang Epoch Times Japan (dịch giả: Nhật Thy) (Link nguồn http://vietdaikynguyen.com/…/72526-chu-gian-da-phan-anh-th…/) :
"Ví dụ, chữ Thân 親 tức thân thích, thân hữu. Gồm bộ tân 辛 bên trái, và chữ kiến 見 bên phải, hàm nghĩa của bộ tân tức là vị cay, tượng trưng cho sự gian khổ, kiến tức là gặp mặt, nhìn thấy nhau; cho dù trong lúc khó khăn nhất, những người thân vẫn có thể luôn ở bên cạnh và tương trợ lẫn nhau, vẫn luôn thăm viếng và giữ được tình cảm khăng khít. Chữ giản thể đã bỏ mất đi chữ kiến chỉ còn lại bộ tân, anh em, vợ chồng,cha con vì bước đường mưu sinh gian khổ đã không còn nhìn mặt nhau nữa.
Hương 郷「hương 」thay đổi thành乡 mất đi「lang」「郎」 (đàn ông , chồng). Ở nông thôn Trung Quốc ngày nay những thanh niên rời xa nhà, đi đến các đô thị lam việc, chỉ còn lại những đứa trẻ và người già.
Ái「愛」ý nghĩa là tình yêu, gồm bộ tâm 心 (con tim) và chữ thụ 受 (chịu đựng), tình yêu thương chính là sự chấp nhận và tình nguyện hi sinh. Chữ giản thể đổi thành 爱, mất đi chữ tâm (trái tim). Trở thành tình cảm (tình yêu) hời hợt bên ngoài không có con tim.
Tiến 進 (tiến lên) gồm bộ sước 辶 (bước chân) và chữ giai 佳 (tốt đẹp), thay đổi thành 进, Chữ giai thay đổi thành bộ tỉnh「井」(cái giếng), tức “ bước chân đi vào giếng” cũng chính là tự hủy diệt mình.
Thính「聴」(nghe) gồm bộ nhĩ 耳 bên trái, chỉ cái tai; bên phải là chữ thập 十 (số mười) phiếm chỉ số nhiều, chữ mục目 (con mắt) và cuối cùng là tâm 心 (con tim), người ta phải nghe bằng tai, nhìn nhận nhiều lần bằng mắt và suy xét bằng nội tâm. Chữ giản thể đã đổi lại thành 听 gồm chữ khẩu 口 (cái miệng) và cân 斤 (cái rìu). Người ta không nghe bằng lỗ tai, không nhìn nhận bằng mắt và suy xét bằng trái tim; họ chỉ biết dùng miệng để tranh cãi và dùng vũ khí để giải quyết mâu thuẫn.
Sỉ 恥 (liêm sỉ, xấu hổ) gồm bộ nhĩ 耳 (tai) và chữ tâm 心 (con tim). Người ta phải hướng nội, lắng nghe tiếng nói của lương tri, liêm sỉ bên trong mình để biết hổ thẹn khi làm việc xấu xa. Chữ giản thể lại thay đổi thành 耻 gồm bộ nhĩ 耳 (tai) và chữ 止 (dừng lại), người ta chỉ biết nghe rồi để đó, chứ không tự suy xét chính lương tâm của mình.
Mãi 買 tức mua bán, gồm hai bộ khẩu 口 ở phía trên biểu thị sự thương lượng, mặc cả giữa bên mua và bán; còn bộ bối (vỏ sò) ở phía dưới tượng trưng cho tiền tệ (người xưa sử dụng vỏ sò như một dạng tiền tệ) thay đổi thành 「买」gồm nửa bộ mịch 冖 ở trên (có nghĩa là trùm kín, bịt) ở dưới là bộ đầu 头 (cái đầu), về bản chất việc mua bán là phải dùng tiền bạc nhưng ở đây lại giống như sự bưng bít, bịt miệng và cướp giật tài sản.
Ưu 優 với ý nghĩa ưu tú, gồm bộ nhân 人 bên trái chỉ người và chữ ưu 憂 ở bên phải với ý nghĩa ưu tư, người xuất chúng ưu tú phải biết lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ. Chữ này đã đồi thành 优. Chữ ưu với nghĩa ưu tư đã bị đổi thành chữ vưu 尤 tức sự kỳ lạ, khác thường, nổi bật; người thời nay có chút ít tài năng liền huênh hoang bộc lộ để thỏa mãn cá tính của mình chứ không còn chú ý đến việc phụng sự quốc gia, dân tộc.
Đạo導 mang ý nghĩa là dẫn đường, bên trên là chữ đạo 道 tức là con đường lớn, hàm nghĩa này còn chỉ đạo lý của vũ trụ và nhân sinh, bên dưới là chữ thốn 寸 (độ dài bằng chiều rộng của hai ngón tay chập lại) một trong những đơn vị đo độ dài nhỏ nhất của người Trung Quốc cổ. Người dẫn đường phải am tường đạo lý, trên mỗi bước chân từng phải cân nhắc tới đạo lý từng chút một, như thế mới không bị lầm lạc. Chữ giản thể đổi chữ đạo thành bộ tỵ 巳 ở phía trên, ứng với con rắn trong 12 địa chi, chẳng lẽ lãnh đạo là phải bước theo vết bò của rắn rết?
Trong chữ Hán phồn thể chữ dược 藥 có nghĩa là thuốc bên trên là bộ thảo với hình dạng 艸…, là tượng trưng cho thảo mộc, cỏ cây, dược liệu mà người xưa sử dụng đều là cây cỏ. Ở dưới là chữ lạc 樂 tức là niềm vui. Thân thể có bệnh khó chịu vô cùng, sau khi dùng thuốc thì cơ thể trở nên thoải mái, thân tâm an lạc. Đó là hàm nghĩa của chữ dược 藥. Chữ dược giản thể 药 vẫn giữ nguyên bộ thảo ở bên trên, nhưng chữ lạc 樂 ở dưới lại bị đổi thành chữ ước 約, nghĩa là ước thúc, trói buộc, gò bó,… hoàn toàn không giống với ý nghĩa ban đầu.
Chữ giản thể vốn cầu sự tinh giản mà bỏ mất nội hàm, cầu lấy sự nhanh chóng ở bề mặt mà bỏ mất chiều sâu trong ý nghĩa, thậm chí tương phản. Tuy nhiên cũng có những chữ Hán không thay đổi, hầu hết là những chữ có hàm nghĩa xấu. Ví dụ như ma (ma quỷ) 魔 thì vẫn là 魔, qủy 鬼 thì vẫn là 鬼,phiến 騙(lừa gạt) thì vẫn là騙,tham 貪 thì vẫn là 貪, độc 毒 thì vẫn là 毒,dâm 淫 thì vẫn là 淫,đổ 賭 (cờ bạc) thì vẫn là 賭. "
Học Dịch mà theo Giản Thể là coi chừng bị "Tẩu hỏa nhập ma".
Tóm lại phàm là người học Dịch, hãy nghiên cứu kỹ chữ Phồn Thể. Chữ Phồn Thể đã tinh thâm huống hồ Kinh Dịch còn tinh thâm gấp bội. Làm sao mà có thể giản hóa thành ký hiệu mà hiểu được chứ !

-dongquangus-


------------
Lớp học Kinh Dịch dạy trực tiếp tại TP HCM vào các chiều Chủ nhật từ 14h (khai giảng ngày 8-11, vào tháng 12 sẽ chuyển sang học buổi sáng) vẫn tiếp tục nhận học viên.
Bạn nào có nhu cầu học hãy liên lạc qua email dongquangus@gmail.com hoặc điện thoại.